Lục Châu Học
Nguyễn Văn Trung
LỜI NÓI ĐẦU
Mục
đích công tŕnh biên soạn này là từ việc tŕnh bày
một số tác phẩm văn hóa của một thời
kỳ, t́m hiểu nếp sống của con người
ở vùng đất mới. Chúng tôi đánh mốc thời
kỳ này bằng hai biến cố chính trị tiêu biểu
không có ư nghĩa rơ rệt về văn hóa: 1865, lúc Pháp
mới chiếm Nam Kỳ, cho xuất bản "Gia
định báo" và 1930, năm thành lập Đảng
Cộng sản.
Chúng tôi
cũng giới hạn việc tŕnh bày sinh hoạt, văn
hóa thời kỳ này vào những tác phẩm văn xuôi
bằng quốc ngữ thuộc văn chương, sử
kư và báo chí. Trong văn chương chỉ nói chuyện
văn truyện, tiểu thuyết lịch sử, tạm
gác các thể văn khác: tuồng, thơ, văn học dân
gian.
Chúng tôi
chia công tŕnh biên soạn này thành hai giai đoạn:
Giai
đoạn I: Góp phần phục hồi một mảng
văn học bị bỏ quên, bỏ qua.
Chúng tôi
nhận định mảng văn học thời kỳ
này là một mảng văn học bị bỏ quên: v́ không
biết, và bị bỏ qua: có biết nhưng v́ một
cách đánh giá nên không xét đến.
Do đó,
chúng tôi muốn phục hồi mảng văn học này,
chứng minh nó có đó bằng cách giới thiệu chính
bản văn của các tác phẩm t́m ra được.
Chúng tôi đặc biệt chú ư thiết lập 1 thư
mục sách, cố gắng thực hiện càng chính xác,
đầy đủ bao nhiêu càng hay bấy nhiêu. Về báo,
chúng tôi mong muốn sẽ thực hiện được
thư mục mấy tờ báo có tiếng, lâu năm như
Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn, Nam Kỳ
nhựt tŕnh, Nam Kỳ địa phận v.v...
Mảng
văn học bị bỏ quên, bỏ qua này thực
hiện ra là 1 mảng văn học phong phú, đa dạng
và đi trước miền Bắc về nhiều thể
loại. V́ thế chúng tôi nghĩ, sau khi đă
được tiếp xúc với những tác phẩm
văn, sử xuất bản ở miền Nam trong thời
kỳ này, không thể không xét lại những luận
điệu quen thuộc, trở thành chân lư hiển nhiên
vẫn c̣n được công nhận, cho đến nay
như "Tố Tâm" là cuốn tiểu thuyết
đầu tiên viết theo lối Tây phương hoặc
"Việt Nam sử lược" của Trần
Trọng Kim là cuốn sử bằng quốc ngữ
đầu tiên soạn theo phương pháp Tây phương.
Tuy nhiên
chúng tôi không có ư định thực hiện một công tŕnh
nghiên cứu văn học sử, sử kư hoàn chỉnh,
đầy đủ, v́ mục đích chính của chúng tôi
là chỉ muốn dựa vào một số tác phẩm
văn chương, sử kư, coi như tài liệu
để t́m hiểu con người sống ở miền
Nam, vùng đất mới. Vả lại, ngay trên b́nh
diện nghiên cứu văn học sử, sử kư, cũng
chưa thể làm ngay 1 công tŕnh hoàn chỉnh v́ rất
thiếu tài liệu.
Nếu
muốn làm việc nghiên cứu này một cách khoa học,
nghiêm chỉnh, thiết tưởng không thể chỉ
học dăm ba cuốn mà đă dám viết văn học
sử thời kỳ này cũng như đọc năm sáu
cuốn văn học sử của người khác,
rồi viết cuốn thứ bảy. Những công tŕnh
tổng hợp như vậy, v́ thiếu tư liệu,
hoặc có tư liệu nhưng chưa được
kiểm chứng về tác phẩm, tác giả, thời
điểm viết, in, xuất xứ... (hiệu đính,
chú thích) nên có thể chỉ là chép lại của nhau
những sai lầm thiên kiến hoặc khẳng
định vô bằng. Chúng tôi theo gương các bậc
đàn anh như Nguyễn Văn Tố (miền Bắc), Lê
Thọ Xuân (miền Nam), là những vị không ai phủ
nhận đó là những người am hiểu nghiêm
chỉnh sử, văn hóa nước nhà, đă viết
rất nhiều bài biên khảo nhưng h́nh như rất ít
để lại những sách, tác phẩm tổng hợp,
v́ các vị đó hiểu muốn thiết lập 1 bộ
văn học sử, bộ lịch sử Việt Nam nghiêm
chỉnh, tương đối đầy đủ
bước đầu là thu lượm xác minh từng
mảnh vụn (một cuốn sách, một tác giả,
một chi tiết của cuốn sách, tác giả) ghép
những mảnh vụn đó thành mảnh, nhiều
mảnh thành mảng, nhiều mảng mới ghép thành
bộ (như bộ chén, bát). Trong tinh thần đó, công
tŕnh nghiên cứu này chưa phải là công tŕnh biên soạn
văn học sử, sử kư, mà chỉ nhằm cung
cấp tài liệu, một số mảnh vụn, mảng
cho các công tŕnh biên soạn văn học sử, sử kư sau
này. Thực ra mục đích chính chúng tôi nhằm là
thiết lập một hồ sơ giới thiệu
những tài liệu văn, sử, báo chí phát hiện
được để dựa vào đó mà đưa ra
những giả thiết giải thích thuộc các ngành khoa
học xă hội như ngôn ngữ học, xă hội
học, dân tộc học, triết học, văn hóa...
Chúng tôi gọi là hồ sơ v́ bản thân vấn
đề nghiên cứu dựa vào tài liệu hiện có,
vẫn cần được bổ túc thêm nữa bằng
những tài liệu sẽ được phát hiện.
Giai
đoạn II: Lục châu học
Thực ra
dù chúng tôi có dẫn chứng một số lượng phong
phú tác phẩm tác giả trong thời kỳ này th́ cũng
chưa thuyết phục được những ai v́
một lối nh́n đánh giá đă bỏ qua mảng văn
học này, chẳng hạn Phạm Quỳnh. Do đó,
phải t́m hiểu quan điểm văn học của
những người gốc miền Bắc và xa hơn
nữa nếp sống đă chi phối quy định quan
điểm văn học trên, đồng thời t́m
hiểu quan điểm văn học của các tác giả
miền Nam và nếp sống của người miền
Nam. Nói cách khác, việc t́m hiểu văn học đưa
tới t́m hiểu xă hội với những nếp
sống, suy nghĩ, lối nh́n đánh giá thực tại...
và như vậy bó buộc chúng tôi phải đề ra
mục tiêu thứ hai vượt khỏi lănh vực khoa
học: t́m hiểu con người ở vùng đất
mới. Mối quan hệ giữa con người ở vùng
đất mới và vùng đất cũ không phải
chỉ thấy có ở Việt Nam. Trên thế giới
nhiều nơi khác cũng thấy có như mối quan
hệ giữa Âu Châu và Bắc Mỹ, Úc Châu.
Vùng
đất miền Nam này, từ khi được khai phá
cư ngụ cho đến nay, trải qua các triều
đại, thể chế chính trị, đă mang nhiều
tên gọi: Nam Kỳ, Nam Kỳ lục tỉnh, Gia
Định Đồng Nai, Nam Trung, Lục Châu, Nam Việt,
Nam Phần, Nam Bộ, Nam Bộ cũ v.v... Nếu t́m
hiểu con người miền Nam từ quá khứ cho
đến ngày nay th́ có thể dùng từ Nam bộ (con
người Nam bộ và Nam bộ học). C̣n t́m hiểu
con người miền Nam trước 1930 th́ chỉ có
thể dùng các từ đă được dùng trong các
thời kỳ đó: Nam kỳ, Nam kỳ lục tỉnh,
Gia Định, Nam Trung, Lục châu (Mục Nam Trung
địa dư, trong Lục tỉnh Tân văn số 7,
26-12-1907, trang 3). Đọc các sách báo thời kỳ này,
chúng tôi thấy từ Nam Kỳ đă được dùng
thời Cựu trào, trước khi người Pháp
chiếm đất này làm thuộc địa (1) nhưng
từ này cũng như từ Nam kỳ Lục tỉnh
thường được dùng về mặt hành chính,
thương mại.
Xứ
Nam Kỳ "Nam Kỳ là xứ nóng nực".
Đất
Nam Kỳ "Nam Kỳ thương cuộc".
Tướng Khôi nổi ngụy, đánh lấy mấy
tỉnh Nam Kỳ. Chẳng bao lâu Nam Kỳ Lục tỉnh
đều đầu phục tướng Khôi (Hạnh Cha
Minh trang 137 và 141). C̣n từ Nam Trung và nhất là từ
"Lục Châu" thường thấy được
dùng để nói về con người ở vùng
đất mới này, về mặt t́nh cảm, trong các câu,
bài có tính cách cổ động, kêu gọi, nói đến
t́nh dân tộc, nghĩa đồng bang... "Người
Nam Trung chúng ta", Cung tặng chư vị Nam Trung
(Lục tỉnh Tân văn số 10) tuy cũng thấy dùng
từ Nam Trung để chỉ những sinh hoạt
thương mại: Nam Trung khách sạn, Nam Trung
dược liệu.
Chúng tôi
thấy từ Lục châu được dùng nhiều
hơn từ Nam Trung. Chẳng hạn trong Lục tỉnh
Tân văn số 2 (21-11-1907): "Xin chư vị lục
châu phải rơ", "Bổn quán đốn thủ"
(trang 2) các vị cao minh trong Lục châu đă cho rằng
chữ quốc ngữ (trang 1). Ba tôi (3 người chủ
trương Lục tỉnh Tân văn, chú thích của NVT)
cúi xin Lục châu đồng tâm hiệp lực (số 3 trang
2).
Kính cáo:
Cùng Lục châu quí vị đặng rơ. Chủ sự
Nguyễn An Khương (số 4).
Chúc
Lục châu quan sĩ quân dân (số 12). Lục châu chư
quân tử. Kính gửi lời cho Lục châu quân tử
đặng hay (số 24).
Trong Nam
Kỳ địa phận số 6 (3-12-1908) bài Thương
mại luận kêu gọi Minh Tân "Nghĩ v́ trong Lục
châu chúng ta bấy lâu nay (trang 39). "Nghe rằng trong
lục châu này (bài khuyến thương mại số 12
ngày 11-2-1909)". "Nội lục châu, khi thừa
dịp, thừa nhàn, ai ai đều vui ḷng... sau này Lục
châu cũng rơ... (số 269, 12-3-1914, trang 173, 174).
Người
miền Nam gọi vùng phía Tây Nam của Nam Kỳ là Hạ
châu. Sơn Nam đă ghi đúng "Khi gọi miền
dưới, tức là nói đến vùng Hạ châu (Tân Gia
Ba, Mă Lai hoặc Nam Dương)" (Đồng bằng
sông Cửu Long hay Vă minh miệt vườn, trang 17) v́
Trương Minh Kư trên đường đi Pháp (1889) có ghé
Hạ châu, tỏ vẻ bất b́nh về cảnh
người kéo xe (Chư quốc thại hội, 1891).
"Singapore
cũng gọi là Hạ châu hay là miền dưới"
(chú thích số 3 trang 10 trong "Hạnh Cha Minh").
"đă cậy người đi Hạ Châu"
(Singapore) cũng kêu là Phố mới (SĐD trang 83).
Chúng tôi
chưa xác định được từ "Lục
châu" được dùng từ bao giờ và không c̣n
được dùng nữa khi nào, nhưng chắc chắn
đă được dùng trong thời kỳ chúng tôi
muốn t́m kiếm. V́ chúng tôi chỉ t́m hiểu con
người ở miền Nam trong thời kỳ này,
thời kỳ mà người miền Nam gọi nhau là
Lục châu chư vị, Lục châu quân tử... nên chúng tôi
tạm gọi việc nghiên cứu nếp sống của
người miền Nam thời kỳ này là Lục châu
học. Dĩ nhiên chúng tôi không phải là những
người đầu tiên đề ra việc nghiên
cứu miền Nam. Người Pháp ngay từ lúc mới
sang đă lập hội nghiên cứu Đông Dương (Le
Comité Agricole et industriel de la Cochinchine transformé en Société des
études indochinoises 1883, BSEI, Janv. - Juin 1933, P.24) và sau đó trong
khuôn khổ Nghiên cứu Đông Dương, thành lập 1
ban nghiên cứu Nam Kỳ "En Octobre" (1926) une section
dite des hautes études cochinchinoises ayant été fondée en sein de la société
des études indochinoises, Louis Malleret, Les travaux de la Commission de la
Grandière ou au Vieux Saigon BSEI, NS, Tome VIII, No 1 et 2, Janv - Juin 1933,
p.43.
*
* *
Mấu
chốt của vấn đề là thái độ
trước sự khác biệt về những yếu
tố địa lư chính trị của vùng đất
cũ, vùng đất mới quy định nếp
sống, cảm nghĩ được phản ánh trong sinh
hoạt văn hóa, văn học. Trong viễn tưởng
nh́n nhận sự khác biệt, chúng tôi t́m hiểu xem
những sinh hoạt văn hóa thời kỳ này của con
người ở vùng đất mới đă dựa trên
những lựa chọn tiêu chuẩn nào đưa
đến những nét khác biệt nào so với những
sinh hoạt văn hóa ở vùng đất cũ.
Những
nét khác biệt này không phải chỉ có ư nghĩa giá
trị riêng cho miền đất mới, mà c̣n có ư nghĩa
giá trị chung cho cả nước (bao gồm vùng
đất cũ) chẳng hạn như một khả
năng trở về nguồn, tháo gỡ những nếp
sống, làm ăn, suy nghĩ đă trở thành khuôn khổ
trói buộc, như một khả năng có sức bật,
khai phá sáng tạo. Đó là những đ̣i hỏi thiết
yếu cho sự tồn tại và phát triển của
một dân tộc.
Nh́n trong
viễn tưởng diễn tiến lịch sử lâu dài,
bất cứ dân tộc nào cũng chỉ có thể tồn
tại và phát triển nếu đáp ứng được
đúng lúc kịp thời những quy luật đ̣i
hỏi về cải tiến cách mạng, lột xác.
Trở về nguồn, khai phá, sáng tạo về mọi
mặt nhất là về mặt văn hóa tư tưởng,
nghĩa là đáp ứng được đ̣i hỏi
Đổi mới.
Trong
lịch sử dân tộc Việt Nam, cuộc Nam tiến
đánh dấu một bước ngoặt thật quan
trọng, không phải chỉ về mặt kinh tế và
cả về mặt văn hóa.
Đi vào
miền Nam, vùng đất mới không phải chỉ t́m
thấy một mảnh đất hoang trù phú để làm
ăn sinh sống dễ dàng, ổn định hơn, mà
c̣n t́m thấy một không gian văn hóa trống, rộng
tạo điều kiện thuận lợi cho việc
duyệt xét lại những giá trị văn hóa truyền
thống: phải bỏ cái ǵ, giữ cái ǵ và bỏ giữ
đều do tự nguyện, tự giác mà làm, thực
hiện một trở về nguồn, với những cái
nhơn loại, cái chân chất, cái đích thực về
mọi phương diện, tạo ra một khởi
điểm mới đi lên không những cho vùng đất
mới, mà cả cho vùng đất cũ. Đó là nhiệm
vụ lịch sử của con người ở vùng
đất mới đối với cả nước,
không phải chỉ về kinh tế mà cả về văn
hóa.
Những
người đă đi vào Nam lập nghiệp, đă Nam
tiến, có lẽ không nghĩ quay trở về quê cũ
sinh sống, nhưng cái thế đi lên, xu hướng phát
triển của dân tộc trên b́nh diện cả
nước lại bắt buộc phải quay trở
về để tác động và làm biến đổi
những cơ chế, lề lối nếp sống, không
phải chỉ về phương diện làm ăn
quản lư, lănh đạo mà cả về phương
diện nhận thức suy nghĩ, đánh giá.
Hướng
giao lưu hai chiều, tác động qua lại giữa
miền đất mới và miền đất cũ là
một quy luật. Một biểu lộ của quy
luật này là sự tác động hiện nay của
văn hóa Bắc Mỹ vùng đất mới trên văn hóa
Âu châu, vùng đất cũ. Người ở vùng
đất cũ, thường tự coi là đại
diện cho văn hóa truyền thống, là trung tâm văn hóa
có tầm mức cả nước, không phải là
địa phương. Địa phương là
người ở các vùng châu Ô, châu Rí hay Gia Định
Đồng Nai, B́nh Trị Thiên.
Nhưng
thực tế đă chứng minh nhiều lề lối làm
ăn, lănh đạo lối nh́n đánh giá về tư
tưởng từ nơi những người tự coi là
trung ương có tầm mức cả nước lại
không thích hợp với những miền địa
phương khác. Điều đó có nghĩa ǵ? Có nghĩa
văn hóa tưởng là có tầm mức cả
nước thực ra không vượt khỏi giới
hạn của 1 địa phương, đồng
bằng sông Hồng, nghĩa là lối nh́n của
người ở vùng đất cũ cũng chỉ là cái
nh́n của 1 địa phương. Do đó đặt ra
nhiệm vụ thống nhất về văn hóa có tầm
mức thật sự cả nước, làm cơ sở
nền tảng cho thống nhất về chính trị.
Tóm
lại, chúng tôi đi từ 1 số dữ kiện văn
sử để t́m hiểu lối nh́n nếp sống
văn hóa của người miền Nam trong viễn
tưởng diễn tiến lịch sử. Nêu lên những
khác biệt trong nếp sống văn học văn hóa
của con người ở vùng đất mới so
với vùng đất cũ không phải để đánh
giá hơn kém mà để giải thích tại sao bằng
cách chỉ ra những nguyên nhân chính trị, xă hội chi
phối hoặc những điều kiện địa lư
chính trị quy định. Sau đó đặt những
khác biệt này trong diễn tiến lịch sử, nghĩa
là coi những bộ mặt khác nhau như của cùng 1 con
người, những khoảng khắc giai đoạn khác
nhau của cùng một lịch sử văn hóa. Như
vậy, không có vấn đề trung tâm với ngoại
lệ hay chính thống với ngoại lệ, đặc
biệt, và lấy trung tâm, chính thống làm chuẩn,
cũng như không có văn hóa miền Bắc hay văn hóa
miền Nam mà chỉ có văn hóa, văn học Việt Nam
ở miền Bắc, ở miền Nam, v́ mỗi nơi,
mỗi thời kỳ có thể thể hiện một nét
đặc biệt nào đó của văn học, văn
hóa Việt Nam có ư nghĩa cho cả nước, không
phải chỉ có ư nghĩa cho 1 địa phương.
Chẳng hạn, t́m hiểu cách phát âm của người
miền Nam, chúng tôi thấy đó là cách phát âm phù hợp
với những quy luật ngôn ngữ dân tộc học
(không phải là đúng hoặc hay hơn cả) nghĩa là
diễn tiến những cách phát âm của người
Việt Nam, phải đợi đến khi vào cư
ngụ ở vùng cực nam này mới có điều
kiện địa lư chính trị thuận lợi quy
định một cách phát âm phù hợp với những quy
luật ngôn ngữ dân tộc học. Hoặc một
số giá trị đạo đức tinh thần trí
thức nào đó miền Bắc giữ được, phát
huy mà miền Nam ít thấy có, hay trái lại một số
giá trị đạo đức, tinh thần trí thức
khác theo truyền thống lại chỉ t́m thấy ở
miền Nam; cả hai trường hợp, c̣n, không c̣n, có,
không có đều do những yếu tố địa lư
chính trị khác nhau quy định.
Như
vậy đă rơ, không thể lấy tính cách khởi
điểm, xưa cũ, lâu đời của một
địa phương được coi là trung tâm chính
thống làm chuẩn để xác định đánh giá
lối nh́n, nếp sống văn hóa của các miền
đất nước.
*
* *
Thực
hiện việc làm trên, không thể dùng lư luận
để phê phán, đánh đổ một lư luận
nhất là khi lư luận đó đă trở thành thiên
kiến. Chỉ có tiếp cận với thực tế, và
thực tế ở đây là tài liệu văn sử, báo
chí phản ảnh lối suy nghĩ, t́nh cảm của
người miền Nam hồi cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX. Chính sự tiếp cận
với thực tế này bắt buộc phải duyệt
xét lại những lối nh́n đánh giá so sánh hơn kém
đưa tới những thái độ coi thường
khinh miệt, bỏ quên, bỏ qua. Mặt dù chỉ
đọc được một phần nào mảng
văn hóa này, chúng tôi cũng thu lượm được
một số dữ kiện để thiết lập
những giả thuyết, giải thích nhằm hai
hướng:
1) Giải
tỏa một số thiên kiến về miền Nam.
Chẳng hạn: báo chí thời kỳ này chỉ có tính cách
thông báo các thông báo của Nhà nước hay mục đích
thương mại làm ăn, không có tính cách văn
chương; viết sai chính tả, văn nôm na trơn
tuột như tiếng nói hàng ngày, không phải văn
chương, lư luận con nít, "cù lần", thiếu
truyền thống văn hóa dân tộc dựa trên nho
học, chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp sớm,
nặng nề, hiểu là mất gốc.
2) Nêu lên
điều mà chúng tôi gọi là nhiệm vụ lịch
sử của người miền Nam (dân chúng và giới trí
thức trong giai đoạn này: trước khi Pháp
chiếm Nam kỳ và hồi đầu Pháp thuộc)
đối với ba yêu cầu căn bản: độc
lập chính trị, thống nhất dân tộc và phát
triển quốc gia. Do điều kiện địa lư
chính trị ở vùng cực Nam thiết yếu mở ra
với bên ngoài, miền Nam là tuyến đầu
đụng độ với tư bản đế
quốc phương Tây trong đà bành trướng của
nó đồng thời tiếp cận với văn hóa
phương Tây dựa trên khoa học kỹ thuật,
đề ra một nhu cầu mới, nhu cầu phát
triển cũng bức thiết như nhu cầu
độc lập, thống nhất và lần đầu
tiên đặt ra với những người có trách
nhiệm lănh đạo về mọi mặt. Cũng do cách
đánh giá con người miền Nam về văn hóa
dựa vào những điều kiện địa lư chính
trị của vùng đất mới, người Pháp sau
khi chiếm đóng Nam Kỳ, đă đề ra một chính
sách văn hóa khác hẳn đối với miền Bắc.
Trước những thực tế riêng biệt như
vậy, người dân và trí thức miền Nam thời
kỳ này đă phản ứng ra sao? Có đặt việc
t́m hiểu vào hoàn cảnh lịch sử, địa lư chính
trị của miền Nam thời kỳ kể trên mới
nhận diện được những lựa chọn
chính trị và văn hóa mà người đọc thấy
biểu lộ qua sách báo thời kỳ này...
Sau
cùng chúng tôi thú nhận khó khăn chính chúng tôi gặp là làm
sao kiểm tra tài liệu, nhất là v́ chúng tôi đề ra
lề lối làm việc: dựa vào tài liệu mà lập
luận, nêu giả thuyết. Những sách báo thời
kỳ này, thư viện công kể như không có khả
năng cung cấp đầy đủ tài liệu cần
đến; Thư viện tư qua bao nhiêu biến cố
thử thách nên ai c̣n giữ lại được ǵ th́ coi
sách báo đó quư như vàng, v́ vàng mất đi th́ có thể
kiếm ra được, nhưng sách báo th́ không. Như
vậy làm sao biết ai có mà t́m đến, và t́m đến
làm sao có thể đủ tin cậy; quư mến để
cho mượn đọc, và chụp lại... Khi bắt
tay vào làm công tŕnh này, chúng tôi chẳng có một tài liệu
ǵ, nên một số tài liệu mà chúng tôi giới thiệu
trong tập này, hầu hết đều do một số
vị tin cậy chúng tôi và hiểu biết việc làm này có
khả năng đóng góp vào văn hóa cho dân tộc, nên
đă không ngần ngại cho chúng tôi mượn tất
cả những ǵ các vị đó có. Chúng tôi xin bày tỏ
ḷng cám ơn chân thành của chúng tôi đối với các
vị đó.
Chúng tôi
cũng xin đưa ra một lời kêu gọi các vị
độc giả cho chúng tôi mua, mượn, chụp, in,
sao chép tất cả những ǵ đă in ở miền Nam
trước 1930 đặc biệt các tài liệu về báo
chí, sách sử kư, truyện. Người đọc chắc
hẳn chia sẻ với chúng tôi nỗi khổ tâm bực
dọc v́ phải đọc những tác phẩm dở dang
hoặc bộ truyện gồm nhiều tập, chỉ
biết 1 tập (bộ Gia Long tẩu quốc gồm 3
tập, ở đây chỉ giới thiệu
được tập đầu). (2)
Sau cùng
về mặt nhận thức, chúng tôi cũng xin thú
nhận công tŕnh nghiên cứu này trước hết là
một bản tự kiểm. Do tiếp xúc với thực
tế (ở đây là sách báo) chúng tôi bắt buộc
phải duyệt xét lại những thiên kiến lập
luận quan điểm của chúng tôi về nhiều
vấn đề, đặc biệt về Miền Nam,
những thiên kiến mà chúng tôi đă tiếp thu
được từ xă hội... V́ thế, nếu bạn
đọc thấy những tŕnh bày dưới đây
đụng tới những ư nghĩ, quan điểm
của ḿnh, th́ xin hiểu cho rằng chính chúng tôi đă
đụng trước tiên với thực tế qua sách
báo thời kỳ này, khác hẳn với những ǵ ḿnh
vẫn nghĩ, và sự đụng độ này, một
sự đụng độ bắt buộc phải
duyệt xét lại những lề lối suy nghĩ xưa
cũ của ḿnh đă là một chất xúc tác thúc
đẩy chúng tôi t́m hiểu, chịu đựng mọi
khó khăn, vượt qua mọi cản trở để
tiến hành bằng được công tŕnh này v́ chúng tôi t́m
thấy một thích thú tinh thần, trí thức trong việc
nghiên cứu t́m hiểu. Chúng tôi mong rằng những cố
gắng của chúng tôi cũng sẽ đưa bạn
đọc vào một hành tŕnh ư thức, một tự
kiểm, v́ bạn đọc có thể đồng ư hay
không đồng ư những giả thiết giải thích
chúng tôi đưa ra, nhưng không thể không nghĩ
ngợi duyệt lại trước một thực tế
xuất hiện không như ḿnh vẫn tưởng.
Phần
thư mục văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ
1865-1930 do ông Bằng Giang, tác giả cuốn "Những
mảnh vụn văn học sử" phụ trách. Chúng
tôi nghĩ rằng thư mục này đóng góp thực
sự cho những công tŕnh t́m hiểu nghiên cứu trong
tương lai làm sao thiết lập được
một Thư mục thật đầy đủ, chính xác
với những chú thích hiệu đính cần thiết
về tác giả, tác phẩm... Đó là một việc làm
công phu thế nào mà những ai đă t́m hiểu chút ít
về t́nh trạng Thư mục thư tịch ở
Việt Nam sẽ dễ dàng nh́n nhận khi đọc
phần Thư mục của ông Bằng Giang.
Bản
thảo này chúng tôi đă soạn xong từ năm 1986,
nhưng v́ quá dài nên chưa có điều kiện phổ
biến. Lề lối làm việc là dựa vào tài liệu
kiếm được, giới thiệu tài liệu đó:
lược tóm tác phẩm, nhận xét, rồi sau cùng
mới đưa ra một giả thuyết giải thích.
Trong khuôn khổ rút gọn, chúng tôi buộc ḷng bỏ
một số tác giả, tác phẩm, bỏ tất cả
phần lược tóm tác phẩm, trừ một hai
trường hợp, về phần nhận xét cũng
chỉ giữ lại những điểm chính, bỏ
một số chương về tiểu sử tác giả,
t́nh h́nh ấn loát phát hành... Chúng tôi cũng muốn giữ
nguyên văn những trích dẫn nhưng điều
kiện ấn loát tốn phí cũng không cho phép thực
hiện được ước muốn trên.
Trong công
tŕnh biên soạn này, có phần giới thiệu tóm tắt
tác phẩm, chúng tôi đă nhờ G.S Trần Thái Đỉnh
lược tóm truyện Gioan Ngô Kim Thạch và Đạo
Thiên Chúa ở miền Nam thuở ban sơ; và ông Thế
Uyên lược tóm một số tiểu thuyết, sử,
tiểu thuyết lịch sử; nhưng v́ e ngại sách
quá dài, nên buộc ḷng phải tạm gác hầu hết
mục lược tóm, chỉ giữ mục nhận xét.
Ngay mục này, chúng tôi cùng sửa chữa thêm bớt
bản viết của ông Thế Uyên. Phần ông Thế
Uyên lược tóm và nhận xét gồm: Chăng Cà Mun,
bốn truyện của Lê Hoàng Mưu, Chơn Cáo tự
sự, Kim thời dị sử, Cours d'histoire annamite,
Chuyến đi Bắc Kỳ, của Trương Vĩnh
Kư, Sử kư Đại nam việt, An nam sử truyện,
Nam việt lược sử, tích Tả quân Lê Văn Duyệt,
Phan Yên ngoại sử, Giọt máu chung t́nh, Việt Nam Lê
Thái Tổ, truyện Chưởng hậu quân Vơ Tánh, Nam
cực tinh huy, Cố Du, Cái án Cao Đài, Le Caodaisme của
LaLaurette, Vilmont.
Xin chân
thành cảm tạ giáo sư Đỉnh và ông Thế Uyên.
Tháng 10/1950
(1) Trong
"Hạnh Cha Minh và Lái Gẩm tử v́ đạo"
của M. Đức, Tân định 1901, đoạn ghi
lại buổi thẩm vấn Lái Gẩm năm 1848 chở
các linh mục từ Singapore về bị bắt có câu
trả lời của Lái Gẩm: "Tôi gặp các ông
tại Phố Mới, các ông mướn tôi chở về
đất Nam Kỳ" (trang 51).
(2)
Hiện nay đă kiếm ra đủ cả ba tập.